Quy hoạch đô thị hiện đại  và bản sắc địa phương

So với quy hoạch đô thị hiện đại thì quy hoạch đô thị hậu hiện đại có tính đa phương và có thể gồm nhiều loại: Từ không gian lịch sử, không gian trí tuệ, không gian tinh thần, không gian nghệ thuật và không gian văn hóa… đến không gian tự nhiên và không gian vật chất thực sự. Tính hậu hiện đại là một hiện tượng toàn cầu. Sự năng động và khác biệt của nó có tính toàn cầu thích ứng với địa phương.
Quy hoạch đô thị hiện đại bản sắc địa phương là quy hoạch đô thị hậu hiện đại, nó không phải là sự hoài cổ mà cố gắng diễn đạt văn hóa địa phương cùng với quan điểm văn hóa thế giới đang tồn tại ngày nay.
Mặt khác, văn hóa như là một chất keo dính kết các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, nó tạo nên hình hài và bản sắc dân tộc trong đô thị. Nếu như văn hóa có khả năng bao quát trực tiếp, bảo đảm tính bền vững xã hội, tính kế thừa và không bị pha trộn ngay khi hội nhập vào cộng đồng thế giới, thì trong quá trình đô thị hóa cần chú ý đúng mức và khai thác sức mạnh của chức năng văn hóa, xem nó như là hệ điều chỉnh và động lực của phát triển đô thị.
Trong xu thế toàn cầu hóa, quy hoạch đô thị hậu hiện đại không chỉ có phân khu chức năng hợp lý, linh hoạt  mà còn cần bảo tồn không gian ký ức để giữ gìn bản sắc địa phương.
Chính sự phong phú về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, những ký ức về môi trường tự nhiên, bản sắc địa phương là dấu hiệu cho thấy môi trường đô thị được nhân dân và khách du lịch yêu thích.
Trường hợp thành phố Hồ Chí Minh cũng không là ngoại lệ. Về quy hoạch đô thị, cần xây dựng hơn nữa quan niệm phát triển – mở rộng lĩnh vực thời gian. Một mặt, chúng ta cần nghiên cứu sự vật dưới góc độ lịch sử “ôn cũ để biết mới”, “lấy xưa xét nay”, mặt khác cần quy hoạch dự đoán về tương lai, cho dù dự đoán này không được chính xác lắm, nhưng nhận thức có thể không ngừng phát triển và không ngừng điều chỉnh, đó là tính tùy biến trong quy hoạch đô thị (urban planning discretion). Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị hiện đại vẫn hướng đến mục tiêu bản sắc văn hóa địa phương.

Tấm phên ngoài hiên nhà, che cửa bên trong, phổ biến ở các căn nhà vùng Bắc Bộ

Không gian tự nhiên
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay được hình thành từ trung tâm Bến Nghé xưa, ở vào vị trí rất độc đáo
– Sát bờ biển Khánh Hội là ranh giới của rừng sác chạy tới biển
– Ở ranh giới từ Tây Nguyên đổ xuống
– Ở ranh giới thấp ăn xuống đồng bằng sông Cửu Long đến Đồng Tháp Mười
Đó là đặc điểm về địa lý và là cơ sở để tạo nên đặc thù của TP HCM. TP HCM có  2 con sông lớn là sông Đồng Nai và sông Sài gòn, gặp nhau ở trung tâm thành phố ở các đoạn sông Nhà Bè và Soài Rạp, tổng chiều dài 80km, từ những con sông này tỏa vào thành phố 11 con kênh lớn (riêng ở nội thành có tới 14 kênh rạch lớn nhỏ) tổng chiều dài kênh rạch lên tới 700km. Diện tích kênh rạch nội thành khoảng 835ha, hầu hết tập trung vào phía Nam và Đông thành phố. Đây là yếu tố thiên nhiên khá thuận lợi để tạo ra môi trường trong lành cho nhân dân lao động làm việc sinh hoạt nghỉ ngơi và cũng là cơ sở để tạo nên một đặc thù của đô thị TP HCM.
Do vậy, việc khôi phục và bảo tồn cảnh quan hệ thống sông rạch thành phố là việc tất yếu, để khôi phục lại giao thông thủy trên sông rạch như trước đây, nhằm hình thành một hệ thống sông rạch cảnh quan cây xanh kết hợp với mặt nước trong cơ cấu bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên.
Các đoạn từ Bến Nhà Rồng, cột cờ Thủ Ngữ đến rạch Bến Nghé, kênh Đôi, kênh Tẻ, rạch Ruột Ngựa, sẽ nghiên cứu các tuyến giao thông thủy kết hợp du lịch để khôi phục hình ảnh trên bến, dưới thuyền.
Cảnh quan sông rạch là nét đặc trưng của đô thị thành phố Hồ Chí Minh.

Không gian văn hóa lịch sử

Trung tâm Sài Gòn được thành lập năm 1689, khi đó nó trở thành một đơn vị hành chính của Nhà nước Việt Nam.
Khu vực Hội trường Thống Nhất – nơi ghi nhận thời khắc lịch sử ngày 30/4/1975, giải phóng Miền Nam Thống Nhất đất nước. Khu lưu niệm Liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi gần cầu Công Lý (Q3). Công viên trước Bảo tàng Lịch sử là nơi trò Trần Văn Ơn đã ngã xuống ngày 9 tháng Giêng năm 1950  để chống Pháp xâm lược và ngụy quyền. Công viên 23/9  là nơi khởi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ (1945), và Bến cảng Nhà Rồng (Q4) là nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, đối diện với cột cờ Thủ Ngữ (Q1)…

Không gian văn hóa nghệ thuật kiến trúc

Trung tâm Sài Gòn còn là nơi tụ hội nhiều công trình cổ thời Pháp: Bến Nhà Rồng (1862), Tòa Án (1885), Thảo cầm viên (1865), Bưu Điện (1886), Công viên Văn hóa Tao Đàn tên cũ Vườn Boulogne (1869) Bệnh viện Nhi đồng 2, tên cũ BV Grall (1870),Trường Lê Qúy Đôn (tên cũ trường Indigène 1874), Nhà thờ Tân Định (1874), Cầu Mống (1874), Nhà thờ Đức Bà (1880), Bảo tàng cách Mạng (tên cũ Dinh Gia Long 1890), Khách sạn Continental – 1897)
Nhà hát thành phố (1900), Trụ sở UBNDTP (tên cũ Tòa Đô Chánh 1909), Chợ bến Thành (1914), Viện Pasteur (1918), Trường Nguyễn Thị Minh Khai (tên cũ trường Nữ sinh (1918), Bảo tàng Mỹ thuật (tên cũ Nhà Chú Hỏa 1920), Khách sạn Majestic (1925), Trường Cao đẳng Sư phạm (tên cũ trường Pháp – Hoa 1925), Trường Lê Hồng Phong (tên cũ  Pétrus Ký -1927), Chợ Tân Định (1927),…
Di sản kiến trúc đô thị của Pháp ở Sài Gòn là rất đáng kể, chính di sản kiến trúc và cảnh quan này đã góp phần tạo nên  đặc thù của Sài Gòn, một thời đã có danh hiệu là Hòn ngọc Viễn Đông. Cảnh quan Sài Gòn cần được bảo tồn mới giữ được đặc trưng của Sài Gòn xưa. Tuy nhiên bảo tồn không có nghĩa là không phát triển các công trình xây dựng mới, mà cần  thiết kế đô thị sao cho không lấn át không gian các công trình lịch sử.
Thật thiếu  sót nếu nói về Trung tâm Sài Gòn lại không nói đến Trung tâm Chợ Lớn. Chợ Lớn trên thực tế gồm nhiều làng mà được biết đến nhiều nhất là làng Minh Hương được thành lập từ năm 1698.
Khu vực Chợ Lớn đường nhỏ chằng chịt, nhà cửa phần lớn nằm áp ra lòng đường, chen chúc hỗn tạp.
Điểm cổ nhất của Chợ Lớn là phố Triệu Quang Phục ngày nay, bắt đầu từ chùa Quán Đế chạy dài đến tận mé sông, đáng được liệt kê vào di tích cổ, không nên vì lý do nào mà cho tháo dỡ, sửa đổi, xây cất mới lại, làm mất đi tích chất lịch sử của nó. Trong các di tích cổ thuộc đường Triệu Quang Phục, đáng kể nhất là Thất phủ Quan Võ Miếu, xem xét kỹ mới thấy đây là  di tích cổ gần như duy nhất để chỉ trung tâm điểm của Chợ Lớn xưa.
Ở góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi có 3 chùa trong đó có Phò Miếu hoặc chùa Bà, ở đây là miếu thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu (1760) là chùa có tiếng xưa nhất và đáng bảo tồn nhất trong vùng. Nay truy ra mới biết 3 chùa này đích thị là trung tâm Chợ Lớn xưa, bằng cớ là những chùa này vần còn giữ y chỗ cũ, mặc dù ngày nay trung tâm buôn bán đã dời qua địa điểm khác, nhưng tại chỗ cũ vẫn còn nhiều hiệu buôn đồ sộ, có cái lâu đời đến 200 năm.
Tuy nhiên, khu phố Triệu Quang Phục chỉ là  phần nhỏ của di sản kiến trúc nhà ở Chợ Lớn, còn hàng loạt các khu phố khác không kém độc đáo như dãy nhà trên đường Trần Hưng Đạo, Chợ Bình Tây, chợ bán sỉ (1928) và các nhà liên kế dọc quanh 4 mặt chợ, dãy nhà kho gạo dọc kênh Bến nghé…
Thành phố  Hồ Chí Minh  còn có tới khoảng 40 danh lam cổ tự.
Các công trình kiến trúc hiện đại kết hợp với truyền thống dân tộc (tạo ra bản sắc văn hóa trong kiến trúc) như: Dinh Thống Nhất, Thư viện Quốc Gia, Bệnh viện Thống Nhất, một số nhà ở, trường học, khách sạn  nhà hàng, cao ốc văn phòng… Những kiến trúc mới này đã làm tăng giá trị các công trình cổ, được bảo tồn gìn giữ bởi yếu tố lịch sử, cũng như khía cạnh thẩm mỹ.
Các cảnh quan nêu trên được đan xen hài hòa trong các khu quy hoạch phân khu linh hoạt sẽ tạo ra cảnh quan bản sắc (ethnoscapes) địa phương Sài Gòn – TP HCM đặc trưng.
Sự công bằng về không gian
Sài Gòn – TP HCM đã trải qua rất nhiều biến cố lịch sử và hiện nay đang phát triển theo xu thế hiện đại. Là một đô thị trẻ, thành phố được hình thành từ nhiều nguồn nhập cư qua hơn 3 thế kỷ nay. Nguồn nhập cư ấy có đủ thành phần và dân tộc. Đó là những nông dân, những người thợ thủ công những người buôn bán, hoặc những người Việt từ miền Trung, miền Bắc, là người Hoa, người Chăm, người Khmer vì nhiều lý do phải bỏ quê hương đi phiêu bạt, hội tụ về đây, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác cho đến ngày nay.
Nếu nhìn vào bản đồ tổng thể thì sẽ thấy những con hẻm dày đặc và chi chít.Trong số đó có nhiều hẻm nghèo, là nơi sinh sống của người dân lao động. Những con hẻm như thế còn tồn tại rất nhiều ngay ở cả các quận trung tâm. Hầu hết các hẻm này có kiến trúc không đẹp và rất lộn xộn. Nhiều hẻm còn nhếch nhác và mất vệ sinh. Nhà cửa trong hẻm được xây bằng vật liệu tôn, gỗ, gạch…
Dự án nâng cấp đô thị vay vốn của Ngân hàng Thế giới (WB) đã tập trung vào các hẻm nghèo, ngõ nghèo của 4 thành phố là  TP HCM, Cần Thơ, Hải Phòng, Nam Định. Nội dung nâng cấp là từng bước đảm bảo điều kiện sống của cộng đồng, giảm thiểu tối đa việc tái định cư hay xây dựng lại, nhằm duy trì cơ cấu xã hội. Cải tạo ở đây gồm cả nâng cấp cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công ích (như cấp nước, cấp điện, thoát nước, đường xá…) và cơ sở hạ tầng xã hội (như trường tiểu học, các phòng khám đa khoa, chợ…). Dự án gồm cả tín dụng nhỏ để người dân có thể mua bán hoặc sản xuất nhỏ, giúp họ tăng thu nhập và cung cấp sự hỗ trợ đối với việc sử dụng dất đai, cung cấp tài chính nhà ở, chương trình huấn luyện tay nghề cho các bạn trẻ và chương trình khuyến khích trẻ em tới trường… nhằm bảo đảm sự công bằng về không gian.
Sự công bằng về không gian có nghĩa là tiếp tục nâng cấp môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo đô thị. Điều đó bao gồm việc cải thiện chỗ ở, hệ thống giao thông công cộng, công viên công cộng, không gian cây xanh, chỗ nghỉ ngơi giải trí, các phương tiện y tế giáo dục…
Đây là quy hoạch đô thị hiện đại – bản sắc văn hóa XHCN Việt Nam. Đi đôi với công bằng xã hội còn có công bằng về không gian và công bằng về môi trường.
Hy vọng rằng Sài Gòn – TP HCM mặc dù mức tăng trưởng dân số rất cao nhưng ở đây sẽ hoàn toàn không còn các khu phố nghèo khổ nhếch nhác.

Bản sắc văn hóa trong quy hoạch ở nước ta

Một thực trạng khá phổ biến là trong quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh, chỉ thiên về kinh tế có thể gây nên tổn hại đối với cảnh quan văn hóa, tổn thương đến tổng thể văn hóa lịch sử, văn hóa nghệ thuật  kiến trúc.
Một trong những  thách thức quan trọng nhất hiện nay là quy hoạch đô  thị hiện đại để chỉnh trang, phát triển các đô thị lớn ở nước ta, sao cho có thể làm tăng chỉ số hạnh phúc của cư dân đô thị trong ký ức về không gian tự nhiên, không gian văn hóa lịch sử, không gian văn hóa nghệ thuật kiến trúc và sự công bằng về không gian… theo tinh thần của Nghị quyết TƯ 5, về bản sắc văn hóa Việt Nam – tiên tiến và đậm bản sắc.